Band7Writing logoBand7WritingDùng thử miễn phí
Hướng dẫnTask 2Two-part question

Bài mẫu Task 2 Two-part question band 7 mới nhất (2026)

11 phút đọc

Bài này có một bài mẫu tham khảo dạng Two-part question, nhắm band 7+, cho một đề về việc người đi làm phải liên tục học kỹ năng mới. Sau bài mẫu, mình phân tích bài theo bốn tiêu chí chấm và chỉ ra hai câu ở mức band 6 cùng cách nâng các câu đó lên.

Đề mình chọn có câu hỏi thứ hai yêu cầu lựa chọn giữa hai phương án. Kiểu câu hỏi này khác với câu positive or negative trong bài hướng dẫn viết dạng Two-part question, nên hai bài bổ sung cho nhau.

Đề luyện tập

Đề luyện tập do Band7Writing đặt

In many countries, people are now expected to keep learning new skills throughout their working lives.

Why is this the case? Should employers or employees pay for this training?

Phân tích đề: hai câu hỏi thuộc hai kiểu khác nhau

Câu hỏi thứ nhất, Why is this the case?, hỏi nguyên nhân. Từ this chỉ việc người lao động được kỳ vọng học kỹ năng mới trong suốt thời gian đi làm. Cụm throughout their working lives cho biết đề nói về người đã đi làm, nên các ý về học sinh hay sinh viên sẽ không phù hợp.

Câu hỏi thứ hai, Should employers or employees pay for this training?, là một câu hỏi về quan điểm có sẵn hai phương án. Bạn có ba cách trả lời: người sử dụng lao động trả, người lao động trả, hoặc mỗi bên trả một phần. Nếu bạn chọn cách thứ ba, bạn cần nói rõ bên nào trả phần chính và ranh giới nằm ở đâu. Một câu như "cả hai bên đều nên trả" mà không giải thích gì thêm thì chưa đủ để thành một lập trường.

Từ this training nối hai câu hỏi lại với nhau. Khoản đào tạo mà bạn bàn ở đoạn sau phải là loại đào tạo sinh ra từ các nguyên nhân bạn nêu ở đoạn trước. Mình dùng điểm này để giữ cho hai đoạn thân bài liên quan với nhau.

Dàn ý

ĐoạnNội dungCụm từ định dùng
Mở bàiTrước đây học một lần, bây giờ học liên tục. Nguyên nhân chính là công nghệ. Doanh nghiệp nên trả phần lớn chi phíupdate their skills, bear most of the cost
Thân bài 1Công nghệ thay đổi công việc, ví dụ nghề kế toán. Người ta làm việc lâu hơn và đổi việc nhiều hơnautomated, further training
Thân bài 2Doanh nghiệp hưởng lợi trước và biết cần kỹ năng gì. Người lương thấp sẽ tụt lại nếu tự trả. Ngoại lệ là khoá học không liên quan đến công việcthe main responsibility lies with, retrain
Kết bàiNhắc lại nguyên nhân và cách chia chi phíjob-related training

Mình lập dàn ý trong khoảng năm phút. Phần ngoại lệ ở thân bài 2 được nghĩ ra từ lúc lập dàn ý, vì nó quyết định cách mình viết câu nêu quan điểm ở mở bài: mình viết most of the cost chứ không viết the cost.

Bài mẫu tham khảo, nhắm band 7+

Bài mẫu tham khảo, nhắm band 7+315 từ

In the past, most people learnt a trade or profession when they were young and relied on that knowledge until they retired. Today, workers are expected to update their skills continually. This is mainly because technology changes the nature of jobs so quickly, and I believe that employers should bear most of the cost of the training this requires.

The principal reason for lifelong learning is the speed of technological change. Software that was standard five years ago has often been replaced, and tasks that used to be done by hand are now automated. An accountant, for example, no longer spends hours adding up figures, but must know how to use programs that do this and how to interpret the results. A second reason is that people work for longer and change jobs more often than previous generations did. Someone who moves from one industry to another in their forties cannot depend on what they studied at twenty, so further training becomes unavoidable.

As for who should pay, I would argue that the main responsibility lies with employers. Companies are the first to benefit when their staff become more productive, and they are also in the best position to know which skills their business will need. If workers had to fund every course themselves, those on low salaries would fall behind, which would harm the firm as well as the individuals. That said, it seems reasonable for employees to pay for qualifications that are not related to their current role. A bank clerk who wants to retrain as a designer is investing in a personal ambition rather than in the bank's future.

In conclusion, continuous learning has become necessary because technology and career patterns are changing rapidly. Since businesses gain the most from a skilled workforce, they should finance job-related training, while individuals should cover the cost of courses that serve only their own plans.

Phân tích bài mẫu theo bốn tiêu chí

Phần dưới đây giải thích bài mẫu đã làm gì để đáp ứng từng tiêu chí trong bảng mô tả band công khai. Đây là nhận xét của mình với tư cách người viết, không phải điểm chấm chính thức.

Task Response

Task Response là tiêu chí về việc bài có trả lời đúng và đủ yêu cầu của đề hay không. Bài mẫu trả lời câu hỏi thứ nhất ở thân bài 1 với hai nguyên nhân, và trả lời câu hỏi thứ hai ở thân bài 2. Hai đoạn có độ dài gần bằng nhau, nên không câu hỏi nào bị viết sơ sài.

Lập trường xuất hiện ở ba chỗ và ba chỗ này khớp với nhau. Mở bài viết employers should bear most of the cost. Câu chủ đề của thân bài 2 viết the main responsibility lies with employers. Kết bài chia rõ hai trường hợp: doanh nghiệp trả cho job-related training, cá nhân trả cho các khoá học phục vụ kế hoạch riêng. Từ most ở mở bài đã báo trước phần ngoại lệ, nên câu That said ở thân bài 2 không làm bài mâu thuẫn với chính nó.

Mỗi ý chính đều được phát triển. Ý về công nghệ có ví dụ về nghề kế toán. Ý về trách nhiệm của doanh nghiệp có hai lý do và một hệ quả giả định, đó là người lương thấp sẽ tụt lại phía sau.

Coherence and Cohesion

Coherence and Cohesion đánh giá cách bài sắp xếp ý và nối các ý với nhau. Mỗi đoạn thân bài mở bằng một câu cho biết đoạn đó trả lời câu hỏi nào. The principal reason for lifelong learning is … thuộc về câu hỏi Why. As for who should pay, … đưa người đọc sang câu hỏi thứ hai mà không cần viết "câu hỏi thứ hai".

Bên trong đoạn, bài dùng ít từ nối đứng đầu câu. Các từ nối rõ ràng trong bài là for example, A second reason, That said và In conclusion. Phần liên kết còn lại đến từ đại từ và từ thay thế. Ví dụ, do this thay cho adding up figures, those on low salaries thay cho workers, và they ở kết bài thay cho businesses. Bảng mô tả band 7 nhắc tới việc dùng nhiều phương tiện liên kết một cách linh hoạt, dù đôi chỗ còn thừa hoặc thiếu. Liên kết máy móc do dùng quá nhiều từ nối được nêu ở band 6.

Lexical Resource

Lexical Resource là tiêu chí về vốn từ. Bài dùng nhiều cách gọi khác nhau cho cùng một khái niệm mà không gượng ép: keep learning new skills trong đề trở thành update their skills continually, lifelong learning, further training và continuous learning. Phía trả tiền cũng được gọi bằng employers, companies, the firm và businesses.

Bài có các collocation, tức là những từ thường đi cùng nhau, đúng với chủ đề công việc: bear the cost, fund a course, a skilled workforce, retrain as, career patterns. Không có từ nào hiếm gặp. Tiêu chí này xét việc dùng từ chính xác và đúng ngữ cảnh, nên một từ khó đặt sai chỗ là một lỗi dùng từ.

Grammatical Range and Accuracy

Tiêu chí này xét độ đa dạng và độ chính xác của ngữ pháp. Bài mẫu có các cấu trúc sau.

Cấu trúcCâu trong bài
Mệnh đề quan hệSoftware that was standard five years ago has often been replaced
Bị độngtasks that used to be done by hand are now automated
Câu điều kiện loại 2If workers had to fund every course themselves, those on low salaries would fall behind
Mệnh đề quan hệ bổ sung cho cả câuwhich would harm the firm as well as the individuals
So sánhpeople work for longer and change jobs more often than previous generations did

Các cấu trúc này xuất hiện vì ý cần đến chúng. Câu điều kiện loại 2 được dùng để nói về một tình huống không có thật, đó là người lao động phải tự trả mọi khoá học. Nếu bạn cố đưa một cấu trúc vào bài chỉ để có mặt nó, câu thường dài ra và dễ sai.

Từ vựng đáng học trong bài

Từ, cụm từNghĩaGhi chú
learn a tradehọc một nghềtrade là nghề cần kỹ năng tay nghề, ví dụ thợ điện, thợ mộc
update their skillscập nhật kỹ năngdùng được cho mọi ngành
bear the cost ofchịu chi phí củatrang trọng hơn pay for
lifelong learninghọc tập suốt đờidanh từ không đếm được
be in the best position toở vị trí thuận lợi nhất đểtheo sau là động từ nguyên mẫu
fall behindtụt lại phía saunội động từ, không có tân ngữ trực tiếp
retrain ashọc lại để làm một nghề khácretrain as a designer
a skilled workforcelực lượng lao động có kỹ nănghay gặp trong chủ đề Work

Các cấu trúc dùng chung cho mọi đề Two-part question, như cách nêu nguyên nhân và cách chuyển sang câu hỏi thứ hai, nằm trong bài từ vựng và cấu trúc cho dạng Two-part question.

Hai câu ở mức band 6 và cách nâng lên

Câu nêu nguyên nhân

Câu ở mức band 6

Technology develops very fast, so people must learn new things.

Câu này đúng ngữ pháp và đúng ý. Điểm yếu là câu quá chung chung: develops very fast và new things dùng được cho gần như mọi đề về công nghệ, nên người chấm chưa thấy ý được phát triển. Bài mẫu nói cụ thể công nghệ thay đổi cái gì.

Câu trong bài mẫu

Software that was standard five years ago has often been replaced, and tasks that used to be done by hand are now automated.

Cách nâng câu ở đây là thay một nhận định chung bằng hai thay đổi cụ thể mà người đọc hình dung được, đó là phần mềm bị thay thế và công việc thủ công được tự động hoá. Ngữ pháp của câu cũng phong phú hơn nhờ hai mệnh đề quan hệ và thể bị động, nhưng đó là kết quả của việc nói cụ thể hơn.

Câu nêu quan điểm

Câu ở mức band 6

I think companies should pay because they have a lot of money.

Lý do they have a lot of money yếu vì nó không liên quan tới việc đào tạo, và cũng không đúng với mọi công ty. Người đọc có thể hỏi lại: có tiền thì tại sao phải trả cho việc này?

Câu trong bài mẫu

Companies are the first to benefit when their staff become more productive, and they are also in the best position to know which skills their business will need.

Câu trong bài mẫu đưa ra hai lý do gắn trực tiếp với câu hỏi. Doanh nghiệp trả tiền vì doanh nghiệp được lợi, và vì doanh nghiệp biết cần đào tạo kỹ năng gì. Khi bạn viết một lý do, bạn thử tự hỏi "lý do này có giải thích được vì sao chính bên này phải trả không?". Nếu câu trả lời là không thì bạn cần tìm một lý do khác.

Tự viết lại đề này như thế nào?

Bạn đọc bài mẫu một lần, đóng lại, rồi tự lập dàn ý với lập trường ngược lại: người lao động nên tự trả phần lớn chi phí. Bạn có thể dùng các ý như kỹ năng thuộc về người học và đi theo họ sang công ty khác, hoặc người tự trả tiền thường học nghiêm túc hơn. Viết theo lập trường ngược lại buộc bạn dùng ý của mình thay vì chép lại ý của bài mẫu.

Viết xong, bạn gửi bài lên trang chấm bài IELTS Writing miễn phí và đối chiếu nhận xét về Task Response với phần phân tích ở trên. Sau đó bạn luyện thêm với các đề khác trong kho đề luyện dạng Two-part question. Các bài mẫu cho những dạng còn lại nằm ở trang bài mẫu, còn nếu bạn muốn xem cách một đề được giải từ lúc đọc đề đến lúc viết xong thì có khoá Giải đề Writing Task 2.

Câu hỏi thường gặp

Bài mẫu này có phải là đề thi thật không?

Không. Đây là đề luyện tập do Band7Writing đặt theo đúng kiểu đề Two-part question, và bài viết là bài mẫu tham khảo nhắm band 7+.

Câu hỏi thứ hai cho hai phương án thì có bắt buộc chọn một không?

Bạn cần cho biết bạn nghiêng về phương án nào. Bạn vẫn có thể chia trách nhiệm cho cả hai bên, miễn là bài nói rõ bên nào chịu phần chính và trong trường hợp nào.

Bài Two-part question nên dài bao nhiêu từ?

Đề yêu cầu ít nhất 250 từ. Khoảng 270 đến 310 từ là đủ để mỗi câu hỏi có một đoạn thân bài được phát triển đầy đủ.

Có nên học thuộc bài mẫu này không?

Không nên. Bạn học cách bài mẫu chia hai câu trả lời vào hai đoạn và cách mỗi ý được giải thích, sau đó tự viết lại đề bằng ý của mình.

Luyện tiếp với Band7Writing

Bài liên quan